LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ HÌNH THÀNH BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VĨNH PHÚC

28/02/2022

 

Trụ sở

Địa chỉ: Số 38, đường Nguyễn Trãi, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên 

Điện thoại: 0211.3843403 - Fax: 0211.3843407- Email: banqlckcn@vinhphuc.gov.vn

 

CHỨC NĂNG BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VĨNH PHÚC

Ban quản lý Khu công nghiệp Vĩnh Phúc được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tại Quyết định số 190/1998/QĐ-TTg, ngày 29/9/1998;

Ngày 20/01/2016 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 04/2016/QĐ-UBND về việc quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban quản lý các Khu công nghiệp Vĩnh Phúc, theo đó Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh Vĩnh Phúc, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong các khu công nghiệp của tỉnh.

Ban quản lý các Khu công nghiệp chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình, kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực có liên quan.

Gồm các Chức năng:

1. Ban Quản lý khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc (sau đây gọi tắt là Ban Quản lý) là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu công nghiệp và tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong khu công nghiệp.

2. Ban Quản lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, công chức, viên chức, chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của UBND tỉnh; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực trong công tác quản lý khu công nghiệp; có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh trong công tác quản lý khu công nghiệp.

3. Ban Quản lý có tư cách pháp nhân; tài khoản và con dấu mang hình quốc huy; sử dụng kinh phí quản lý hành chính nhà nước, kinh phí hoạt động sự nghiệp và vốn đầu tư phát triển do ngân sách nhà nước cấp theo kế hoạch hàng năm; nguồn kinh phí khác theo quy định pháp luật.

Trụ sở của Ban Quản lý đặt tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ HÌNH THÀNH BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VĨNH PHÚC

Sau khi tái lập tỉnh (năm 1997), Vĩnh Phúc còn nhiều khó khăn. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã xác định phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp nhằm tạo sự tăng trưởng cao cho nền kinh tế, kích thích các ngành dịch vụ, nông nghiệp phát triển. Chính vì vậy, Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh đã quyết định thành lập Ban chuẩn bị dự án để tham mưu cho tỉnh trong việc phát triển khu công nghiệp (KCN) tập trung và thành lập Ban Quản lý các KCN làm tham mưu cho tỉnh trong công tác thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp. Theo đề nghị của tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 29/9/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 190/1998/QĐ-TTg về việc thành lập Ban quản lý các KCN Vĩnh Phúc.

Khi mới thành lập, Ban quản lý các KCN Vĩnh Phúc chỉ có 7 cán bộ do đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh kiêm Trưởng Ban với 02 phòng chức năng là Văn phòng và phòng nghiệp vụ Kế hoạch tổng hợp, trực thuộc Ban quản lý các KCN Việt Nam.

Đến năm 2000, để phù hợp với thực tiễn trong quản lý và điều hành, Chính phủ có Quyết định số 100/2000/QĐ- TTg ngày 17/8/2000 về việc chuyển giao Ban quản lý các KCN cấp tỉnh về trực thuộc các UBND tỉnh, thành phố. Trên cơ sở Quyết định này, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh đã tổ chức, sắp xếp lại tổ chức và giao nhiệm vụ cho Ban phù hợp với yêu cầu phát triển của tỉnh. Đến ngày 02/12/2002, với Quyết định 4567/QĐ-UB, Ban quản lý các KCN, CCN và thu hút đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc đã chính thức hoạt động với vai trò là một cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh với số lượng gần 30 cán bộ, được biên chế vào 5 phòng chuyên môn: Văn phòng, phòng Quản lý đầu tư, phòng Quản lý doanh nghiệp, phòng Quy hoạch môi trường, phòng Giải phóng mặt bằng và lãnh đạo ban có 03 người, 01 đồng chí Trưởng Ban và 02 đồng chí Phó trưởng Ban.

Khi Luật đầu tư  năm 2005 ra đời, trước yêu cầu thực tế về quản lý các KCN và các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp trên địa bàn tỉnh, ngày 06/10/2006, UBND tỉnh có Quyết định số 73/2006/QĐ-UB về việc bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho Ban quản lý các KCN Vĩnh Phúc được thực hiện đầy đủ quyền hạn, nhiệm vụ theo Quyết định 190/1998/QĐ-TTg ngày 29/9/1998 và đổi tên chính thức là Ban quản lý các KCN Vĩnh Phúc.

Sau ngày 01/7/2015, Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV ngày 03/9/2015 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban quản lý KCN, KCX, KKT; UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Quyết định số 04/2016/QĐ-UBND ngày 20/01/2016 về việc quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban quản lý các KCN Vĩnh Phúc. Đến nay, Ban đã thành lập 09 phòng chuyên môn: Văn phòng, phòng Quản lý đầu tư, phòng Quản lý doanh nghiệp, phòng Quy hoạch xây dựng, phòng quản lý Lao động, phòng quản lý Tài nguyên môi trường, phòng Đại diện KCN, Thanh tra Ban  và 01 Trung tâm Dịch vụ & Hỗ trợ đầu tư trực thuộc Ban. Số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có mặt tại Ban là 48 người, trong đó công chức, viên chức là 35 người, hợp đồng lao động khác là 13 người.

Cùng với sự phát triển của các KCN trên địa bàn tỉnh, tập thể Ban Quản lý các KCN ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, dần khẳng định được vị trí, vai trò, trách nhiệm trong hệ thống các sở, ban, ngành, đóng vai trò là cơ quan chuyên môn tham mưu cho UBND tỉnh và trong sự nghiệp phát triển công nghiệp tỉnh nhà; là cơ quan tham gia tích cực trong thực hiện cải cách hành chính, giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư theo cơ chế một cửa liên thông, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nâng cao chỉ số cạnh tranh tỉnh Vĩnh Phúc; nhiều năm liên tục là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tập thể Ban và nhiều cá nhân đã được trao tặng phiều phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành chức năng và của tỉnh. Các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Ban luôn tỏ rõ quyết tâm sẽ sát cánh cùng nhau, tập trung sức lực và trí tuệ tiếp tục vượt qua khó khăn, thách thức vì sự phát triển nhanh hơn, mạnh hơn và đột phá hơn nữa của Ban quản lý các KCN trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay.

Vĩnh Phúc thuộc Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và Vùng Thủ đô, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú Thọ, phía Đông và phía Nam giáp thủ đô Hà Nội. Vĩnh Phúc nằm trên Quốc lộ số 2, Đường sắt Hà Nội – Lào Cai và đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai – Vân Nam (Trung Quốc), là cầu nối giữa vùng Trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội; liền kề Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân. Những lợi thế về vị trí địa lý kinh tế đã đưa tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Việt Nam.

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du với vùng đồng bằng Châu thổ Sông Hồng, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và vùng núi.Vùng núi có diện tích tự nhiên 65.500 ha; Vùng trung du kế tiếp vùng núi, chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông – Nam có diện tích tự nhiên khoảng 25.100ha; Vùng đồng bằng có diện tích 33.500ha.

Sau hơn 25 năm tái lập tỉnh, từ một khu công nghiệp ban đầu được Chính phủ cho phép thành lập năm 1998 là khu công nghiệp Kim Hoa, diện tích 50ha, đến nay, Vĩnh Phúc đã có 19 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch, quy mô trên 5.487,3ha. Trong đó có 14 khu công nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư, 8 khu công nghiệp với cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư theo hướng hiện đại đã đi vào hoạt động, đạt tỷ lệ lấp đầy cao như: Khu công nghiệp Kim Hoa, khu công nghiệp Bình Xuyên II đạt 100%; khu công nghiệp Khai Quang 96%; khu công nghiệp Bình Xuyên 92%; khu công nghiệp Thăng Long Vĩnh Phúc  82%. Nhiều vùng đất đồi, cằn cỗi của các huyện Sông Lô, Lập Thạch, Tam Dương được quy hoạch thành những vùng công nghiệp, đô thị phát triển.

Ban quản lý các khu công nghiệp, đến nay, các khu công nghiệp thu hút 337 dự án FDI đến từ 20 quốc gia, vùng lãnh thổ, tổng vốn đăng ký trên 5.396,2 triệu USD; 74 dự án DDI, tổng vốn đăng ký trên 8.740 tỷ đồng. Trong đó, có 85% dự án đi vào hoạt động. Nhiều tập đoàn lớn như Toyota Việt Nam, Honda Việt Nam, Sumitomo (Nhật Bản); Piaggio (Italia); De Heus (Hà Lan); Deawoo, Patron vina, Heasung vina, Cammsys, Interflex vina, Young Poong (Hàn Quốc); Prime Group (Thái Lan)...đang hoạt động hiệu quả, tạo việc làm, thu nhập ổn định cho trên 100.000 lao động. Hằng năm, doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đóng góp khoảng 60% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, từ 60-65% giá trị xuất khẩu và chiếm trên 50% tổng thu ngân sách toàn tỉnh. Đặc biệt, sự phát triển lớn mạnh của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã góp phần quan trọng đưa giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh chiếm tới 4,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước.

Vĩnh Phúc đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, các khu công nghiệp thu hút khoảng 14-15 nghìn tỷ đồng và từ 7-8 tỷ USD vốn đầu tư; giải quyết việc làm cho từ 140-150 nghìn lao động vào năm 2025 và từ 180-200 nghìn lao động vào năm 2030. Tỷ lệ các khu công nghiệp đi vào hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt từ 93-95%.

Để đạt mục tiêu này, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành chủ động tham mưu, đề xuất công tác quy hoạch, phát triển các khu công nghiệp mới trên nguyên tắc bảo đảm hiệu quả sử dụng đất, hạn chế phát triển khu công nghiệp trên đất nông nghiệp có năng suất ổn định. Tập trung đổi mới, tái cấu trúc và hoàn thiện mô hình các khu công nghiệp để thu hút các dự án quy mô lớn, công nghệ hiện đại, hàm lượng tri thức cao; rà soát, điều chỉnh, mở rộng, bổ sung thêm 8 khu công nghiệp, nâng số lượng khu công nghiệp đến năm 2030 lên 27 khu, tổng diện tích khoảng 6.000ha. Cùng với đó, quan tâm đầu tư xây dựng các khu nhà ở công nhân, bảo đảm mỗi khu công nghiệp có một khu nhà ở công nhân, khu nhà ở, dịch vụ liền kề. Phấn đấu đến năm 2025 xây dựng được khoảng 2.000-2.500 căn hộ cho công nhân thuê, mua; hoàn thành việc xây dựng tiêu chí thu hút đầu tư có chọn lọc, có hiệu quả kinh tế - xã hội cao vào các khu công nghiệp để làm cơ sở xây dựng kế hoạch xúc tiến đầu tư hằng năm.

Trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy nhanh quá trình thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mở ra nhiều cơ hội thu hút đầu tư từ nước ngoài. Vĩnh Phúc nằm ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vùng Thủ đô, có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế và thu hút đầu tư trực tiếp vào địa bàn tỉnh. Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu đã có bước phát triển, đáp ứng cơ bản cho sự phát triển của tỉnh. Các cơ chế, chính sách của Nhà nước, của tỉnh mới được ban hành tạo lập hành lang pháp lý thông thoáng, khuyến khích và huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, cùng với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia thế hệ tiếp theo đã và đang trưởng thành, đang tiếp tục tạo uy tín và sức hút đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Ban quản lý các Khu công nghiệp xác định các nhiệm vụ chính, chủ yếu, có liên quan đến thực hiện nhiệm vụ của Ban trong thời gian tới là phải tập trung  thu hút các dự án đầu tư vào các KCN hiện có; ưu tiên các dự án có suất đầu tư lớn, công nghệ cao, tăng tỷ lệ lấp đầy diện tích các KCN. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo môi trường pháp lý, điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp SXKD; nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch và điều hành thực hiện quy hoạch các KCN; chủ động quỹ đất cho phát triển công nghiệp, tận dụng quỹ đất đồi kết hợp khai thác lợi thế từ vị trí địa lý để phân bố hợp lý các KCN trên địa bàn; nâng cao chất lượng đầu tư xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào KCN với các tiện nghi, tiện ích công cộng phục vụ cho KCN, xây dựng đời sống văn hoá cho người lao động tại các KCN.

 

Các tin đã đưa ngày: