MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIÊU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯƠC VỀ LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC

15/01/2020

1. Khái quát tình hình chung về các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

Tính đến tháng 12/2019, trên đa bàn tnh Vĩnh Phúc có 18 khu công nghiệp(KCN) vi quy mô 5.228 ha, có 09 KCN đưc thành lp và cp Giấy chứng nhân đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (trong đó: 08 KCN đã đi vào hot đng; vi tổng vn đăng ký là 8.031,8 tđng (trong đó: vn đu tư trc tiếp: 7.914,82 tđng và vn ngân sách 117 tđng) và 117,42 triu USD. Tng din tích đt quy hoch là 1.842,62 ha, trong đó đt công nghip theo quy hoch là 1.340,11 ha; Tng din tích đt công nghip đã bi thưng, giải phóng mặt bằng được xây dng htng là 1.042,78 ha; Tng din tích đt công nghip đã cho thuê, đăng ký thuê là 653,1 ha  tllp đyKCN đt 63 %.

Trên đa bàn tnh Vĩnh Phúc tính đến đầu tháng 12/2019 có 16 quc gia và vùng lãnh thđu tư vào các KCN, đng đu là Hàn Quc vi 155 dán, vn đăng ký đu tư 1.920,3 triu USD, chiếm 47% tng vốn đầu tư, đng thhai là Đài Loan có 33 dán, vn đu tư 881,3 triu USD, chiếm 22% tng vốn đầu tư, Nht Bn đng thứ bavi 32 dán, vn đu tư 479,2 triu USD, chiếm 12% tng vốn đầu tư, còn li theo thứ tự lần lượt là các dán đến tTrung Quc, Thái Lan, Singapore, Italia, Samoa, Seychelles, Hà Lan, Thy Đin, Hoa Kỳ, Ấn Đ, Tây Ban Nha, Indonesiavà Pháp. Lukế đến tháng 12/2019, sdán đưc cp Giy chng nhn đu tư trong các KCN còn hiu lc đt 353 dán, gm 61 dán DDI vi tng vn đu tư đăng ký là 14.562,49 tđng và 292 dán FDI vi tng vn đu tư 4.068,99 triu USD.

2. Tình hình hot đng sản xuất kinh doanh (SXKD) ca các doanh nghip trong các KCN.

Năm 2019, tình hình hot đng SXKD ca các doanh nghip trong các KCN tiếp tcn đnh, các chtiêu kinh tế của các dự án đu tăng so vi cùng k,

5.1 Kết quhot đng sn xut kinh doanh ca các doanh nghip DDI: .

- Doanh thu 2019 ước đạt: 12.979,5 tđng, tăng 11% so vi năm 2018, đt 109% kế hoch năm; Giá trkim ngch xut khu: 68,95 tđng, tăng 17% so vi năm 2018, đt 97% kế hoch năm 2018; Np ngân sách Nhà nưc: 318,38 tđng, tăng 1% so vi năm 2018, đt 90 % kế hoch năm.

5.2 Kết quhot đng sn xut kinh doanh ca các doanh nghip FDI:

- Doanh thu 2019 ước đạt:5.526,32 triu USD, tăng 28% so vi năm 2018; đt 126% kế hoch năm; Giá trkim ngch xut khu: 4.021,54 triu USD, tăng 20% so vi năm 2018, đt 118% kế hoch năm; Np ngân sách Nhà nưc: 2.781,23 tđng, tăng 9% so vi năm 2018, đt 114 % kế hoch năm.

5.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của slĩnh vc sn xut chyếu:

* Công nghip sn xut và lp ráp ô tô, xe máy:

Doanh thu ưc đt 320,33 triu USD, tăng 11% so vi năm 2018; Giá trxut khu ưc đt 192,06 triu USD, tăng 21% so vi năm 2018; Np ngân sách Nhà nưc ưc đt 416,75 tđng, bng 98% so vi năm 2018.

* Lĩnh vc công nghip htr(phtùng) ô tô, xe máy:

Doanh thu 2019 ưc đt 320,16 triu USD, tăng 8% so vi năm 2018; Giá trxut khu ưc đt 103,53 triu USD, tăng 33% so vi năm 2018; Np ngân sách Nhà nưc ưc đt 814,58 tđng, tăng 8% so vi năm 2018.

* Lĩnh vc công nghiệp hỗ trợđin, đin t, gia công linh kin đin t.

Doanh thu 2019 ưc đt 4.020,78 triu USD, tăng 37% so vi năm 2018; Giá trxut khu ưc đt 3.527,16 triu USD, tăng 22% so vi năm 2018; Np ngân sách Nhà nưc ưc đt 1.007,12 tđng, tăng 9% so vi năm 2018.

Các doanh nghip thuc lĩnh vc nàytiếp tc được đy mnh hot đng sn xut kinh doanh, tăng vn, tăng quy mô và tuyn thêm lao đng ngay tnhng ngày đu năm 2019. Các chsdoanh thu, giá trxut khu, np ngân sách Nhà nước đu tăng so vi năm 2018, tiêu biu như: Công ty TNHH Partron Vina; Công ty TNHH BH Flex Vina; Công ty TNHH Interflex Vina và Công ty TNHH Solum Vina...

* Lĩnh vc dệt may:

Doanh thu 2019 ưc đt 152,38 triu USD, tăng 43% so vi năm 2018; Giá trxut khu ưc đt 108,86 triu USD, bng 96% so vi năm 2018; Np ngân sách Nhà nưc ưc đt 77,74 tđng, tăng 14% so vi năm 2018.

* Lĩnh vc công nghip sn xut vt liu xây dng ca các doanh nghip trong KCN thuc Tp đoàn Prime Group:

Doanh thu 2019 ưc đt 69,36 triu USD, bng 95% so vi năm 2018; Giá trxut khu ưc đt 5,79 triu USD, bng 70% so vi năm 2018; Np ngân sách Nhà nưc ưc đt 93,81 tđng, tăng 2% so vi năm 2018

          3. Thực trạng tình hình lao động hiện nay của các doanh nghiệp trong các KCN tỉnh Vĩnh Phúc.

Hiện nay toàn tỉnh có 86.987 lao động là người Việt Nam làm việc trong các KCN, trong đó:Lao động là người Vĩnh Phúc: 61.771 người, chiếm 71,01%; lao động tử các tỉnh khác đến 25.216người, chiếm 28,99%; Lao độnglà nữ có 60.838 người, chiếm 69,93%, lao động là nam có 26.149 người, chiếm 30.07%. Về trình độ đào tạo, trong tổng số lao động trên: Lao động có trình độ đại học trở lên có: 6.551 người, chiếm 7,53%, lao động trình độ trung cấp, trung cấp nghề có: 4.897 người, chiếm 5,62%, lao động sơ cấp nghề và lao động được dạy nghề thường xuyên: 23.420 lao động, chiếm 26,92% và lao động phổ thông chưa qua đào tạo: 48.490 lao động, chiếm 59,93%. Ngoài ra, hiện nay toàn tỉnh có 1.130 lao động là người nước ngoàiđang làm việc trong các doanh nghiệp trong các KCN trên địa bàn tỉnh.

Đánh giá chung:

Số lượng lao động trong các KCN ngày càng tăng, chất lượng lao động trong các KCN từng bước có cải thiện. Sự hiểu biết và thực hiện các quy định của pháp luật lao động của người sử dụng lao động và người lao động trong các KCN ngày càng được nâng lên. Công tác hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức công đoàn các cấp được quan tâm, quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngày càng hài hòa, các vướng mắc trong quan hệ lao động được giảm thiểu. Trong năm 2019, cũng đã xảy ra một số vướng mắc nhỏ xảy ra trong quan hệ lao động, nhưng đã được giải quyết kịp thời, không xảy ra vụ việc đình công, lãn công trong các KCN.

Hạ tầng dịch vụ phục vụ các KCN nói chung, phục vụ người lao động nói riêng đã được tỉnh quan tâm, đầu tư, tạo điều kiện bước đầu như: Hình thành một số khu nhà ở cho công nhân hoặc người có thu nhập thấp, đã có một số thiết chế văn hoá phục vụ người lao động... Số công nhân đi làm xa thuộc các địa phương ngoài tỉnh hoặc các huyện Sông Lô, Lập Thach, Vĩnh Tường ... đã có hệ thống xe ca với trên 120 xe chuyên phục vụ đã tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động đi, về. Những yếu tố trên đây đã góp phần từng bước ổn định,cải thiện đời sống công nhân làm việc trong  các KCN trên địa bàn tỉnh.

Trình độ lao động, nhất là trình độ của số lao động chưa qua đào tạo còn thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp còn khó khăn, chính sách đào tạo nghề và chuyển đổi nghề nghiệp chưa thực sự hiệu quả. Do vậy, việc thay đổi nghề nghiệp phù hợp với đặc thù giới tính, độ tuổi và chuyên môn của người lao động giữa các doanh nghiệp trong các KCN còn hạn chế.Tỷ lệ lao động nữ, tuổi trẻ trong các KCN chiếm tỷ lệ cao, đến từ nhiều địa phương khác nhau. Nhìn chung đời sống người công nhân vẫn còn nhiều khó khăn, các cơ sở vật chất phục vụ cho người công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu như: cơ sở chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh; nhà ở cho công nhân, cơ sở các trường mầm non phục vụ con, em công nhân, cơ sở văn hóa thể thao cho người công nhân... Nhiều gia đình người lao động vẫn phải ở trọ trong các nhà trọ chất lượng thấp.

Trước thực tế hiện nay do số lượng các doanh nghiệp đầu tư vào các KCN ngày càng tăng, số lượng lao động từ các địa phương ở xa đến làm việc trong các KCN của tỉnh ngày càng nhiều như các tỉnh: Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Thanh Hoá, Nghệ  An... hoặc các huyện phía Bắc của tỉnh như: Sông Lô, Lập Thạch đến các KCN của tỉnh (chủ yếu tại Bình Xuyên, Vĩnh Yên) làm việc, nên việc đi lại, ổn định   nơi ăn chốn ở còn nhiều khó khăn, các vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự an toàn xã hội phát sinh ngày càng nhiều.

Hệ thống pháp luật về lao động vẫn còn những quy định chung chung, không rõ hoặc chưa phù hợp với thực tế cuộc sống, gây khó khăn cho quá trình quản lý như quy định về “giờ làm việc liên tục”, quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong đào tạo nâng cao tay nghề hàng năm cho người lao động. Vai trò của tổ chức công đoàn tuy đã được phát huy, nhưng chưa đạt hiệu quả như mong muốn, tính độc lập của tổ chức công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp còn hạn chế do Ban chấp hành công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp đều thực hiện kiêm nhiệm, là người được doanh nghiệp tuyển dụng và làm việc, nhận lương từ doanh nghiệp.

          4. Công tác quản lý nhà nước về lao động trong các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

          4.1 Kết quả thực hiện.

Trong thời gian qua, Ban Quản lý các KCN Vĩnh Phúc (sau đây viết tắt là Ban) luôn coi trọng việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về lao động trong các KCN, nghiêm túc thực hiện tốt các nhiệm vụ ủy quyền và xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong lĩnh vực quản lý lao động. Công tác theo dõi, nắm bắt tình hình lao động và thực hiện các chế độ, chính sách cho người lao động trong các doanh nghiệp luôn được quan tâm thực hiện sát sao. Các thủ tục hành chính trong lĩnh vực lao động được Ban thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Tính đến tháng 12/2019, Ban đã tiếp nhận 15 thỏa ước lao động tập thể; Tiếp nhận đăng ký 33 nội quy lao động; Tiếp nhận hồ sơ đăng ký thực hiện hợp đồng nhận lao động thực tập của 05 doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập, nâng cao tay nghề dưới 90 ngày; Tiếp nhận báo cáo khai trình lao động của 8 doanh nghiệp; Cho ý kiến về làm thêm từ 200-300 giờ/năm đối với 21 doanh nghiệp; Tiếp nhận thang bảng lương 161 thang bảng lương của 161 doanh nghiệp;Tiếp nhận báo cáo cho thôi việc nhiều người lao động của 02 doanh nghiệp. Cũng trong thời gian trên, Ban đã chấp thuận vị trí việc làm sử dụng lao động là người nước ngoài cho 315 lượt đăng ký vị trí việc làm sử dụng lao động người nước ngoài; Cấp, cấp lại 920 giấy phép cho lao động là người người nước ngoài; Xác nhận 15 người nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Trong đó 98% hồ sơ thủ tục hành chính diện cấp phép và xác nhận nêu trên được giải quyết trước hạn và đúng hạn, chỉ có 2% hồ sơ thủ tục hành chính giải quyết chậm hạn.

Trong năm 2019 Ban đã tổ chức 12 hội nghị tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người sử dụng lao động và người lao động với số lượng trên 2000 người thuộc gần 50 doanh nghiệp trong các KCN tham gia. Công tác theo dõi việc thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động theo Luật Lao động và các quy định hiện hành luôn được duy trì thường xuyên, nền nếp như: Công tác tiếp nhận đăng ký nội quy lao động, tiếp nhận thỏa ước lao động, tiếp nhận thang bảng lương, tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập từng bước được nâng cao về chất lượng. Trong thời gian qua, Ban thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn các doanh nghiệp hoàn thiện, đăng ký nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể, thang bảng lương… để bảo đảm thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho người lao động và tạo môi trường làm việc ổn định, quan hệ lao động hài hòa.

Năm 2019, Thanh tra Ban đã tổ chức kiểm tra, nắm bắt tình hình 72 doanh nghiệp trong KCN, kịp thời phát hiện các tồn tại, vướng mắc, sai phạm trong quá trình thực hiện pháp luật nói chung trong đó có pháp luạt lao động nói riêng và yêu cầu các doanh nghiệp khắc phục, sửa chữa hoặc điều chỉnh thực hiện theo đúng các quy định hiện hành.

Qua quá trình quản lý, Ban đã tiếp nhận và chuyển xử lý một số văn bản kiến nghị của người lao động về việc thực hiện pháp luật lao động theo quy định hiện hành, phối hợp đôn đốc và giám sát thực hiện pháp luật lao động đối với một số trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh như trường hợp Công ty ELK Dumo Vina, Công ty KH Electronics, Công ty TNHH Vina Korea, Công ty TNHH Wise Pacific Apparel, Công ty TNHH Đường Hải Việt Nam...

4.2 Đánh giá chung:

4. 2.1 Ưu điểm:

Việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về lao động và việc thực hiện các chế độ chính sách cho người lao đông trong KCN trong những năm qua đã đạt kết quả tích cực. Các vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật lao động của doanh nghiệp được Ban quan tâm giải quyết kịp thời; Công tác tuyên truyền, hướng dẫn và đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện các quy định pháp luật mới trong lĩnh vực lao động được thực hiện nghiêm túc, kịp thời. Việc giải quyết các thủ tục hành chính trong lĩnh vực lao động được thực hiện nhanh chóng, nghiêm túc. Công tác quản lý lao động là người nước ngoài đã được thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ,Ban luôn được sự quan tâm, chỉ đạo của UBND tỉnh và sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời của các cơ quan liên quan như Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Công an tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh, UBND thành phố Vĩnh Yên, UBND huyện Bình Xuyên, UBND huyện Tam Dương...nên đã thực hiện tốt công tác quản lý các KCN nói chung, trong đó có việc quản lý lao động trong các KCN nói riêng...Các vướng mắc, tồn tại trong quy định của pháp luật về lao động đã cơ bản được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quan tâm hướng dẫn, giải quyết

Việc thực hiện nhiệm vụ ủy quyền đã tạo điều kiện cho Ban Quản lý các Khu công nghiệp nâng cao hiệu quả của cơ chế một cửa, một đầu mối trong quá trình quản lý dự án đầu tư trong các KCN, nâng cao tính đồng bộ trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp suốt quá trình trước, trong và sau khi đã đầu tư vào các KCN của tỉnh; tạo điều kiện cho Ban có thể quản lý dự án một cách tổng thể, thuận lợi.

4. 2.2 Tồn tại, hạn chế

Công tác quy hoạch, dự kiến, dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp tại các KCN chưa được quan tâm sát sao, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển các KCN trong tình hình mới. Việc cung ứng lao động có thời điểm chưa đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp kể cả lao động phổ thông và lao động có tay nghề, kể cả các dự án mới đi vào hoạt động hay các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh.

Vẫn còn tình trạng một số doanh nghiệp và một số người lao động vẫn chưa thực hiện tốt các quy định của pháp luật nói chung trong đó có pháp luật lao động; Vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp chưa được phát huy..

Số lượng công nhân tập trung tại các KCN lớn, đến từ nhiều địa phương, tỷ lệ lao động phổ thông chiếm đa số, nên việc quản lý lao động trong các KCN còn nhiều phức tạp; đời sống công nhân còn nhiều khó khăn; Việc đầu tư phục vụ nhu cầu học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nói chung và hiểu biết pháp luật nói riêng của công nhân còn nhiều hạn chế.

Vấn đề môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự trong các KCN và các vùng xung quanh các KCN luôn là những vấn đề cần được quan tâm đặc biệt.

Thanh tra Ban chỉ có chức năng kiểm tra, không có chức năng thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính, do vậy, làm giảm hiệu quả của công tác kiểm tra đối với doanh nghiệp trong các KCN.

Quy định về bảo vệ người lao động trong trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động, doanh nghiệp vắng chủ chưa đầy đủ, gây khó khăn cơ quan quản lý nhà nước trong việc xử lý, bảo vệ quyền lợi cho người lao động khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng ngừng hoạt động hoặc bị vắng chủ.

5. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về lao động trong các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

Trước thực trạng tình hình đội ngũ người lao động trong các KCN như trên, trước yêu cầu phát triển các KCN từ nay đến năm 2030, trước xu thế phát triển mạnh mẽ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sự phát triển vượt bậc của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về lao động trong các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất là, phải tập trung thực hiện tốt công tác quy hoạch, dự kiến, dự báo nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong các KCN trước mắt và lâu dài. Công tác dự báonhu cầu về nhân lực của các KCN phải đảm bảo phù hợp với quá trình phát triển của các KCN, đáp ứng đầy đủ, kịp thời cả về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực dựa trên cơ sở công tác dự báo theo một quy trình khảo sát, tổng hợp, chính xác, cẩn thận, công phu, tỷ mỷ. Quy trình đó là: 1)Thống kê nhu cầu lao động của các dự án đầu tư trong các KCN; 2) Tổng hợp số lượng, chất lượng lao động tại các KCN; 3) Tính toán tỷ lệ tăng trưởng lao động hàng năm và bình quân cho mỗi giai đoạn làm cơ sở cho công tác dự báo. 4) Tính toán tỷ lệ lao động bình quân theo diện tích đất cho thuê và theo dự án; tỷ lệ tăng lao động bình quân theo tiêu chí trên cho từng năm và từng giai đoạn; 5) Xây dựng phương pháp dự báo theo tốc độ tăng bình quân về lao động, số lượng dự án và diện tích đất cho thuê; 6) Tổng hợp chung, tìm sai số và đưa ra số liệu dự báo về nhân lực. Từ đó xây dựng Đề án quy hoạch nguồn nhân lực phục vụ cho việc xây dựng, hoàn thiện và phát triển các KCN trong tương lai.

Thứ hai là, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền phổ biến pháp luật về lao động cho người lao động và người sử dụng lao động trong KCN. Qua đó giúp người lao động và người sử dụng lao động trong các KCN nắm vững các quy định của pháp luật liên quan nhằm thực hiện đúng, nghiêm túc các quy định về lao động, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động của từng doanh nghiệp trong KCN. Từng bước hình thành thói quen suy nghĩ và hành động theo pháp luật, giúp người lao động giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội, tránh xung đột trong mối quan hệ với người sử dụng lao động.Công tác thông tin, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật phải đi đôi với công tác kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm việc sử dụng lao động hoặc việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động của các doanh nghiệp trong các KCN.

Thứ ba là, quan tâm thực hiện tốt các chế độ, chính sách phúc lợi cho người lao động và gia đình họ tại các KCN. Bởi người lao động là trung tâm của hoạt động sản xuất kinh doanh, là nhân tố tạo nên giá trị gia tăng cho quá trình xây dựng, phát triển của doanh nghiệp trong các KCN. Do vậy, phải xúc tiến nhanh việc thực hiện các dự án về nhà cho công nhân tại các KCN cùng với việc xây dựng, phát triển các thiết chế văn hoá, phục vụ các nhu cầu chính đáng của số đông người lao động và con em họ như: Trường mầm non, phòng khám đa khoa, các cơ sơ vui chơi giải trí, thể dục, thể thao... Quan tâm xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, đôn đốc, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các quy định về tiêu chuẩn môi trường làm việc, giảm thiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động, để người lao động yên tâm làm việc. Khuyến khích tạo điều kiện cho các nhà đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi xã hội phục vụ người lao động trong KCN.

Thứ tư là, tập trung thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động;quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp trong các KCN công tác tuyển dụng lao động. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh phải làm tốt việc khảo sát, nắm bắt thông tin về nhu cầu lao động có tay nghề trong các doanh nghiệp, trên cơ sở đó tập trung đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng nghề để doanh nghiệp có thể sử dụng ngay cả về số lượng và chất lượng lao động. Bên cạnh đó, các cơ quan có chức năng như: Ban quản lý các KCN, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, UBND cấp huyện, cấp xã các trung tâm dịch vụ việc làm...phải tích cực hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp trong công tác tuyển dụng lao động. Báo Vĩnh Phúc, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Cổng Thông tin điện tử của tỉnh và Cổng Thông tin của một số sở, ban ngành chức năng phải hỗ trợ, giúp các doanh nghiệp đăng tải, công khai nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp. Ngoài ra, phải nghiên cứu, xây dựng chính sách nhằm hỗ trợ, thu hút nguồn nhân lực từ các tỉnh khác đến làm việc tại các KCN của tỉnh.

Thứ năm là, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nhất là công tác giải quyết các thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý lao động gồm: xét duyệt, chấp thuận vị trí việc làm sử dụng lao động là người nước ngoài đến việc cấp, cấp lại giấy phép cho lao động là người người nước ngoài, xác nhận lao động là người nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo hướng đơn giản hơn nữa về thủ tục, giảm thiểu thời gian giải quyết, phấn đấu 100% hồ sơ thủ tục hành chính trong lĩnh vực này được giải quyết trước hạn và đúng hạn, không có hồ sơ thủ tục hành chính giải quyết chậm hạn. Phân công bố trí công chức của Ban thường xuyên bám sát từng doanh nghiệp theo địa bàn, nắm chắc tình hình về lao động và thực hiện chế độ, chính sách đối với người lao động. Duy trì, thực hiện nghiêm túc công tác báo cáo về tình hình lao động trên Phần mềm quản lý các KCN.

Thứ sáu là, tổ chức thực hiện có hiệu quả, nghiêm túc công tác quản lý lao động là người nước ngoài. Việc quản lý lao động là người nước ngoài chẳng những  cần phải thực hiện tốt việc xét duyệt, chấp thuận vị trí việc làm, cấp, cấp lại giấy phép cho lao động là người nước ngoài, xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp phép, mà còn phải thực hiện tốtcông tác quản lý tạm trú, lưu trú đối với lao động là người nước ngoài; việc chấp hành các quy định của pháp luật Việt Nam về người nước ngoài; công tác đảm bảo an ninh trật tự tại các cơ sở có người nước ngoài lưu trú, tạm trú trên địa bàn tỉnh và các địa phương liên quan. Xúc tiến nhanh việc đề xuất, trình UBND tỉnh ban hành Quy chế phối hợp trong quản lý lao động là người nước ngoài đang làm việc trong các KCN trên địa bàn tỉnh.

Thứ bảy là, thực hiện nghiêm túc công tác thanh tra, kiểm tra về công tác quản lý lao động và thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động trong các KCN trên địa bàn tỉnh. Công tácthanh tra, kiểm tra được thực hiện theo định kỳ hàng năm hoặc đột xuất đối với các doanh nghiệp, cần có sự phối hợp trong thực hiện giữa Ban với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Liên đoàn lao động tỉnh, Bảo hiểm xã hội...để tạo nên sự thống nhất và hiệu quả trong công tác này. Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra nhằm đánh giá đúng, chính xác tình hình, kết quả việc thực hiện chính sách pháp luật về lao động và chế độ, chính sách đối vói người lao động, với   hai chủ thể là: người sử dụng lao động và người lao động. Qua đó đôn đốc, hỗ trợ hướng dẫn doanh nghiệp hoàn thiện, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về lao động; Biểu dương, khen thưởng những điển hình tiên tiến, phát hiện  những hành vi cố ý vi phạm pháp luật, đề xuất biện pháp xử lý kịp thời.

Thứ tám là, đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ thông tin hoặc các công nghệ mới trong công tác quản lýlao động trước yêu cầu phát triển của các KCN trên địa bàn tỉnh xu thế phát triển vượt bậc của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong đó nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện, nâng cấp Phần mềm quản lý các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, nâng cấp, sử dụng có hiệu quả Hệ thống quản lý chất lượng ISOO - 9001 lên Hệ thống quản lý chất lượng ISOO - 2015, Phần mềm quản lý văn bản dùng chung... nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ công tác quản lý các KCN, trong đó có nhiệm vụ quản lý lao động và thực hiện chế độ, chính sách cho người lao động trong các KCN trên địa bàn tỉnh.

Thứ chín là, tăng cường sự phối hợp về công tác quản lý lao động trong các KCN giữa các cơ quan chức năng liên quan như: Ban quản lý các KCN, Liên đoàn Lao động tỉnh LĐLĐ tỉnh, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Công an tỉnh, Công đoàn các KCN, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Vĩnh Phúc...trong đó vai trò chủ đạo là Ban quản lý các KCN nhằm thực hiện tốt công tác quản lý lao động, kể cả những lao động là người nước ngoài. Qua đó, giúp ổn định tình hình về lao động, cung ứng đầy đủ, kịp thời lao động trong các KCN, đẩy mạnh phong trào thi đua lao động, sản xuất, gắn với việc quản lý có hiệu quả công tác an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh./.

Nguyễn Thanh Chính

                                    Phó Trưởng ban quản lý các KCN Vĩnh Phúc

Các tin đã đưa ngày: